Bản đồ nước Thuỵ Điển (Sweden), lịch sử & những điều thú vị

Bản đồ nước Thuỵ Điển hay bản đồ các đơn vị hành chính đất nước Thuỵ Điển trên bản đồ thế giới giúp bạn tra cứu thông tin về vị trí tiếp giáp, ranh giới, địa hình của nước này chi tiết.

Chúng tôi BANDOVIETNAM.COM.VN tổng hợp thông tin Tất Tần Tật về nước Thuỵ Điển từ nguồn Internet uy tín, được cập nhật mới năm 2022.

Các vùng của đất nước Thuỷ Điển
Các vùng của đất nước Thuỷ Điển

Thông tin sơ lược giới thiệu về nước Thuỵ Điển

Thụy Điển với tên chính thức là Vương quốc Thụy Điển, đây là một quốc gia ở Bắc Âu nằm ở bán đảo Scandinavia, Thủ đô đóng ở Stockholm.

Đất nước Thuỷ Điển giáp Na Uy ở phía Tây và Phần Lan ở phía Đông Bắc, nối với Đan Mạch bằng cầu Öresund ở phía Nam, phần biên giới còn lại giáp Biển Baltic và Biển Kattegat.

Ngày nay, Thuỵ Điển là một nước quân chủ lập hiến với thể chế đại nghị và một nền kinh tế phát triển cao. Thuỵ Điển đứng đầu về chỉ số dân chủ trên thế giới theo tạp chí The Economist và đứng thứ bảy trong Liên hiệp quốc về chỉ số phát triển con người. Thuỵ Điển là thành viên của Liên minh châu Âu vào năm 1995 và là thành viên của OECD.

Diện tích: Nước Thuỵ Điển có tổng diện tích tự nhiên 450.295 km². Trong đó, 88,24% dân số sống ở thành thị (8.938.478 người vào năm 2019). Độ tuổi trung bình là 41,2 tuổi.

Dân số: Tính đến năm 2022, theo số liệu từ Liên Hợp Quốc, dân số hiện tại của nước Thuỵ Điển là 10.191.952 người. Tổng dân số các nước nước Thuỵ Điển hiện chiếm chiếm 0,13% dân số thế giới. 

Nước Thuỵ Điển đang đứng thứ 91 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ. Mật độ dân số đạt 25 người/km2.

Quốc kỳ: Quốc kỳ Thụy Điển là một lá cờ màu lam - có hình thập tự vàng. Nó bao gồm Cờ Thánh giá Bắc Âu màu vàng hoặc màu vàng kim (tức là chữ thập ngang không đối xứng, có sọc đứng gần cột cờ hơn bay, với đường viền mở rộng tới cạnh cờ) trên nền màu xanh.

Quốc kỳ và quốc huy của nước Thụy Điển
Quốc kỳ và quốc huy của nước Thụy Điển
Tên chính thức Vương quốc Thụy Điển
Tên tiếng Anh Sweden
Loại chính phủ Chế độ quân chủ lập hiến
Đơn vị tiền tệ Krona Thụy Điển (SKr); 1 SKr - 100 oere
Thủ đô Stockholm
Ngày Quốc Khánh 6-6 (1809)
Lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Ngày 11/1/1969
Thành phố lớn Göteborg, Helsingborgn, Kiruna, Malmö, Uppsala
Diện tích 450.295 km². Trong đó rừng chiếm 228.000 km2, hồ 39.000 km2 và đất canh tác chiếm 30.000 km2
Vị trí địa lý Nằm ở Bắc Âu. Tọa độ: 62000 vĩ bắc, 15000 kinh đông.
Địa hình Phần lớn là vùng đất thấp bằng phẳng, núi ở phía tây.
Dân số 10.191.952 người
Ngôn ngữ chính Tiếng Thụy Điển. Ngoại ngữ thông dụng nhất là tiếng Anh.
Các dân tộc Người Thụy Điển chiếm 81,9%, người Phần Lan khoảng 5%, các nhóm dân tộc khác là 13%, trong đó người Láp (còn gọi là người Sam) có khoảng 150.000 người.
Tên miền quốc gia .se
Tôn giáo Đạo Tin lành dòng Lu-thơ chiếm 85% dân số, còn lại là các tôn giáo khác.
Múi giờ +1:00
Mã điện thoại +46
Giao thông bên Bên phải

Đơn vị hành chính: Các tỉnh của Thụy Điển, landskap, là những khu vực lịch sử, địa lý và văn hóa. Thụy Điển đã có 25 tỉnh, các tỉnh này không có chức năng hành chính, nhưng vẫn còn những di sản lịch sử và các phương tiện nhận dạng văn hóa.

Một tỉnh trong số đó đã là các phân cấp hành chính của Thụy Điển cho đến năm 1634, khi các đơn vị này đã được thay thế bằng các quận của Thụy Điển (län). Một số đã được chiếm từ Đan Mạch-Na Uy. Những tỉnh khác như các tỉnh của Phần Lan đã bị mất. Lapland là tỉnh duy nhất thu được thông qua xâm chiếm. 

  • Blekinge (Blechingia*)
  • Bohuslän (Bahusia*)
  • Dalarna (Dalecarlia*)
  • Dalsland (Dalia*)
  • Gotland (Gotlandia*)
  • Gästrikland (Gestricia*)
  • Halland (Hallandia*)
  • Hälsingland(Helsingia*)
  • Härjedalen (Herdalia*)
  • Jämtland (Jemtia*)
  • Lappland (Lapponia*)
  • Medelpad (Medelpadia*)
  • Norrbotten (Norbothnia*)
  • Närke (Nericia*)
  • Skåne (Scania*)
  • Småland (Smolandia*)
  • Södermanland (Sudermannia*)
  • Uppland (Uplandia*)
  • Värmland (Wermlandia*)
  • Västmanland (Vestmannia*)
  • Västerbotten (Vestrobothnia*)
  • Västergötland (Westro Gothia*)
  • Ångermanland (Angermannia*)
  • Öland (Olandia*)
  • Östergötland (Ostro Gothia*)

 Bản đồ Thuỵ Điển

Bản đồ hành chính nước Thuỵ Điển khổ lớn năm 2022

PHÓNG TO

PHÓNG TO

PHÓNG TO

 Bản đồ Thuỵ Điển
Bản đồ Thuỵ Điển, Click vào hình để xem kích thước lớn
Bản đồ Thụy Điển và các nước Châu Âu năm 2022
Bản đồ Thụy Điển và các nước Châu Âu năm 2022
Bản đồ đất nước Thụy Điển chi tiết năm 2022
Bản đồ đất nước Thụy Điển chi tiết năm 2022

Bản đồ Thuỵ Điển trên bản đồ thế giới 

PHÓNG TO 1 PHÓNG TO 2 DOWNLOAD

Những điều thú vị về đất nước Thụy Điển

2/3 diện tích Thụy Điển được bao phủ bởi rừng: Thụy Điển có rất nhiều rừng và 2/3 diện tích đất liền được bao phủ bởi những khu rừng với tổng diện tích 280.650 km², 1/2 đó thuộc sở hữu của người dân và 1/4 thuộc sở hữu của các công ty tư nhân.

2. Thụy Điển là quốc gia có diện tích lớn thứ năm ở châu Âu: Thụy Điển có tổng diện tích đất là 447.435 km² có mật độ dân số thấp thứ hai châu Âu.

3. Thụy Điển có khoảng 300.000 - 400.000 con nai rừng - đây cũng niềm tự hào của quốc gia này.

4. Hộ chiếu Thụy Điển là một trong những hộ chiếu quyền lực nhất thế giới: Hộ chiếu đất  nước này có thể nhập cảnh 124 quốc gia không cần thị thực và nhận visa tại của khẩu của 33 quốc gia khác.

5. Âm nhạc Thụy Điển là một trong những sản phẩm xuất khẩu lớn nhất: ABBA là một trong những ban nhạc nổi tiếng nhất thế giới, tuy nhiên, ngoài ABBA còn có các ban nhạc nổi tiếng khác như Roxette, Europe, Alcazar và Ace of Base In Flames, Hammerfall, Meshuggah và các ban nhạc rock như Mando Diao, The Hellacopters, The Hives và the Sound. Có rất nhiều nghệ sĩ Thụy Điển như Zara Larsson, Avicii (đã mất), Swiss House Mafia, Alesso, Robyn, Måns Zelmerlöv và Lykke Li.

6. Quốc gia đầu tiên trên thế giới cấm đánh con cái, từ năm 1979.

7. Là một trong những quốc giá có thuế giá trị gia tăng - VAT cao nhất thế giới: Với tỷ lệ 25% (bằng Croatia, Na Uy, và Đan Mạch; chỉ thua Myanmar, Djibouti và Hungary).

8. Có tỷ lệ số máy tính cá nhân cũng như số lượng nhà hàng Mcdonald trên đầu người cao nhất Châu Âu.

9. Thụy Điển là quốc gia hào phóng nhất trên thế giới: Thụy Điển đã đóng góp giúp các nước nghèo hơn 1% GDP.

10. 99% chất thải Thụy Điển được tái chế: Nước này còn nhập rác từ các nước khác.

11. Có công ty TNHH lâu đời nhất thế giới: Đó là công ty Falu Koppargruva AB của Thụy Điển, được thành lập vào năm 1288.

12. Thụy Điển là một trong số ít các quốc gia có diện tích đất nổi tăng lên mà không nhờ chiến tranh: Hiện nay, độ cao đất tăng lớn nhất tại Furuögrund, khoảng 9,2 mm mỗi năm.

13. Tiêu thụ 20 triệu bánh kem mỗi năm.

14. Làm việc trung bình 1.611 giờ mỗi năm.

15. 86% người Thụy Điển sống ở các thành phố: 22% dân số Thụy Điển sống ở thủ đô Stockholm.

16. Các bố mẹ Thụy Điển được nghỉ sinh nở 480 ngày với 77,6% lương.

17. 52% năng lượng dân Thụy Điển tiêu thụ là năng lượng tái tạo.

18. Ở Thụy Điển, quan hệ đồng tính đã được hợp pháp hóa: Từ năm 1944.

19. Có nhiều huy chương Olympic: Cùng với Mỹ, Nga, Anh, Đức, Ý và Pháp nằm trong top 7 nước dẫn đầu huy chương Olympic.

20. Một trong những nước dân có tuổi thọ cao nhất thế giới: Với tuổi thọ trung bình là 80 tuổi.

21. Nước có bất bình đẳng về thu nhập giữa nam và nữ, và chênh lệch tỷ lệ nam và nữ đi làm thấp nhất thế giới: Nam giới nhiều hơn nữ giới 4%, trong khi tỷ lệ các bà mẹ đi làm đạt đến 76%.

22. Người Thụy bỏ nhiều thời gian cho việc học hành nhất: Tuổi trung bình của sinh viên là 25,5 tuổi. Ở nước này, 40% nữ giới và 30% nam giới ở độ tuổi 25-64 tham gia các khóa học, cao hơn 9% đối với nam giới và 10% đối với nữ giới so với con số trung bình của châu Âu.

23. Đất nước được trao tất cả các giải thưởng Nobel (trừ Nobel hòa bình - do Na Uy trao): Cho đến nay người Thụy Điển được nhận 30 giải Nobel trong các lĩnh vực khoa học và 5 giải Nobel hòa bình.

24. Đất nước có số bằng phát minh cao nhất châu Âu: Có số lượng bằng sáng chế trên đầu người cao nhất ở châu Âu, đạt 271 bằng phát minh sáng chế/1 triệu dân.

Tóm tắt lịch sử của đất nước Thuỵ Điển

Vào cuối thời kỳ băng hà (khoảng 12.000 TCN) những người đầu tiên đã bắt đầu di dân đến các vùng ven biển bằng đường bộ ở giữa Đức và Scania (miền Nam của Thuỵ Điển ngày nay). Các di chỉ khảo cổ lâu đời nhất có niên đại vào khoảng 13.000 năm trước đây được tìm thấy ở vùng Scania. Khi con đường bộ này biến mất vào khoảng 5.000 năm TCN miền trung và vùng ven biển của Thụy Điển đã có dân cư. Cũng theo các di chỉ khảo cổ, trong thời gian từ Công Nguyên cho đến năm 400 đã có một nền thương mại phát đạt với Đế quốc La Mã. Vùng Scandinavia được nhắc đến lần đầu tiên trong các văn kiện của La Mã từ năm 79 như trong Naturalis Historiae của Gaius Plinius Secundus hay trong De Origine et situ Germanorum của Gaius Cornelius Tacitus.

Đầu thế kỷ 11 vương quốc này là một liên minh lỏng lẻo của các vùng tự trị với các hội đồng, luật lệ và tòa án riêng biệt, chỉ được liên kết với nhau qua cá nhân của vị vua có quyền lực tương đối ít. Vương quốc thật ra được thành lập trong thời kỳ Trung Cổ, giữa năm 1000 và 1300, đồng thời với việc theo đạo Thiên Chúa. Sau năm 1000 danh hiệu vua bắt đầu thành hình ở Götaland (miền nam Thuỵ Điển) và ở Svealand (miền trung Thuỵ Điển). Ban đầu chức vị này thường hay bị tranh cãi, không bền vững và thường chỉ có tầm quan trọng trong vùng. Dưới thời của Birger Jarl, người có quan hệ mật thiết với anh rể của ông là vua Erik Eriksson, bắt đầu có những cải cách xã hội và chính trị rộng lớn, mang lại một quyền lực tập trung và một xã hội được tổ chức theo gương của các quốc gia phong kiến Châu Âu.

Năm 1388 nữ hoàng Đan Mạch Margarethe I được một phái quý tộc chống đối công nhận là người trị vì Thuỵ Điển. Năm 1397 cháu của Margarethe là Erik của Pommern lên ngôi vua trị vì 3 vương quốc Đan Mạch, Na Uy và Thuỵ Điển, thành lập Liên minh Kalma.

Trận Poltava năm 1709.Năm 1611, sau khi vua cha qua đời, Gustav II Adolf lên ngôi lúc 17 tuổi, bắt đầu thời kỳ Thuỵ Điển vươn lên trở thành cường quốc. Ông tham chiến trong nhiều cuộc chiến tranh thời đó. Vào năm 1700, ba nước láng giềng là Đan Mạch, Ba Lan và Nga mở đầu cuộc Đại chiến Bắc Âu (1700-1721) chống lại Thuỵ Điển. Vua Karl XII của Thụy Điển lần lượt đánh tan tác quân Đan Mạch, quân Nga và cả quân Ba Lan. Nhưng vào năm 1709, một vị vua lớn trong lịch sử Nga là Pyotr Đại Đế đánh tan tác quân Thuỵ Điển bị trong trận Poltava (1709). Vua Karl XII chết vào năm 1718, và rồi Thuỵ Điển không còn là cường quốc nữa, mất đất về tay Đế quốc Nga và Vương quốc Phổ. Tuy thế, chính phủ Thuỵ Điển vẫn mong muốn lập lại vai trò liệt cường của đất nước. Họ đẩy đất nước vào cuộc chiến tranh với quân Nga trong thập niên 1740, kết quả là quân Thuỵ Điển lại bại trận. Từ đó, Nga hoàng càng can thiệp vào nội bộ Thụy Điển Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), Thuỵ Điển tham chiến trong liên quân Áo - Pháp - Nga, để đánh nước Phổ với mong muốn giành lại tỉnh Pomerania. Nhưng một vị vua lớn trong lịch sử Phổ là Friedrich II Đại Đế đã đấu tranh anh dũng, sau cùng liên quân dần dần tan rã và quân Thuỵ Điển cũng phải rút lui.

Vua Karl XIV Johan tranh vẽ của Fredric WestinTrong cuộc cuộc chiến chống Nga (1788 - 1790) của vua Gustav III, Quân đội Thuỵ Điển gặt không ít rắc rối và cũng chẳng nhận được một vùng đất nào.. Không những vậy, cuộc chiến tranh chống Napoléon của vua Gustav IV Adolf còn gây cho Thuỵ Điển nhiều thiệt hại hơn. Do Nga hoàng Aleksandr I lúc đó liên minh với "tên phản Chúa" Napoléon (1807), quân Nga đánh đuổi quân Thuỵ Điển ra khỏi xứ Phần Lan, và điều này khiến một nhóm quý tộc Thuỵ Điển nổi điên lật đổ vua Gustav II Adolf vào năm 1809. Vào năm 1813, Thụy Điển tham chiến trong liên quân chống Pháp - một liên minh có cả Nga và Phổ; sau khi Hoàng đế Napoléon đại bại trong trận Leipzig, vua Karl XIV Johan còn lâm chiến với Đan Mạch. Trong Hiệp ước Kiel năm 1814 Đan Mạch bắt buộc phải nhượng Na Uy để đổi lại phần đất Vorpommern của Thuỵ Điển. Khi Na Uy tuyên bố độc lập sau đó, trong một cuộc chiến ngắn ngủi và gần như không đổ máu vua Karl XIV Johan đã thành công trong việc ép buộc thành lập liên minh Thuỵ Điển – Na Uy mà trong đó Na Uy vẫn là một vương quốc riêng biệt. Sau cuộc chiến tranh cuối cùng này Karl XIV Johan đã áp dụng một chính sách hòa bình nhất quán, là cơ sở cho nền trung lập của Thuỵ Điển. Thời gian 200 năm hòa bình của Thuỵ Điển tính từ thời điểm này cho đến nay là độc nhất trên toàn thế giới ngày nay.

Dân số Thuỵ Điển tăng rõ rệt trong thế kỷ 19, từ năm 1750 đến 1850 dân số đã tăng gấp đôi. Nhiều người ở vùng nông thôn, là nơi cư ngụ của đa phần người dân, không có việc làm, đi đến nghèo nàn và nghiện rượu. Vì thế trong thời gian từ 1850 đến 1910 đã có một cuộc di dân lớn mà chủ yếu là đến Mỹ. Mặc dầu vậy khi cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu tiến triển tại Thuỵ Điển, người dân từng bước gia nhập vào thành phố và tổ chức các công đoàn xã hội chủ nghĩa. Một cuộc cách mạng của những người theo chủ nghĩa xã hội đang đe dọa xảy ra được tránh khỏi vào năm 1917, sau đó là việc tái thành lập chế độ nghị viện và quốc gia này trở thành dân chủ.

Trong thế kỷ 20, Thuỵ Điển trung lập trong Đệ nhất thế chiến và Đệ nhị thế chiến, mặc dầu là sự trung lập của quốc gia này trong Đệ nhị thế chiến vẫn còn bị tranh cãi. Thuỵ Điển tiếp tục trung lập trong cuộc Chiến tranh lạnh và cho đến ngày nay vẫn không là thành viên của một liên minh quân sự nào. Sau Đệ nhị thế chiến nhờ vào nguồn tài nguyên thiên nhiên và không bị tàn phá Thuỵ Điển đã có thể phát triển ngành công nghiệp cung cấp cho công cuộc tái xây dựng Châu Âu và vì thế trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất trên thế giới vào thập niên 1960. Khi các nền kinh tế khác bắt đầu vững mạnh Thuỵ Điển tuy đã bị vượt qua vào thập niên 1970 nhưng vẫn thuộc về các quốc gia đứng đầu về mặt hạnh phúc của người dân.

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Thuỵ Điển gia nhập Liên Hợp Quốc, tháng 11 năm 1959 gia nhập Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu (EFTA). Dưới triều vua Gustavus V (1907-1950), kinh tế phát triển thịnh vượng chưa từng có. Thuỵ Điển duy trì tính trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ I. Một lần nữa, Thuỵ Điển vẫn giữ vai trò trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ II. Đảng Dân chủ xã hội liên tục cầm quyền dưới thời Thủ tướng Per Albin Hasson (1932-1946), Thủ tướng Tage Erlander (1946- 1969). Kinh tế vẫn phát triển và mô hình Thuỵ Điển tiếp tục được củng cố. Tuy nhiên, dưới thời Thủ tướng Olof Palme (1969- 1979), Chính phủ phải đương đầu vớị cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội.

Năm 1976, phe bảo thủ lên cầm quyền. Năm 1982, O. Palme trở lại giữ chức Thủ tướng. Palme bị Ám sát năm 1986, Ingvar Carlsson trở thành người kế nhiệm. Năm 1991, lãnh đạo phe bảo thủ, Carl Bildt, trở thành Thủ tướng. Năm 1994, Đảng Dân chủ Xã hội trở lại cầm quyền. Năm 1995, Thuỵ Điển gia nhập Liên hiệp Châu Âu, nhưng từ chối thông qua việc sử dụng đồng euro năm 1999.

Bản đồ Google Maps của Thuỵ Điển