Bản đồ nước Thuỵ Sĩ (Switzerland) & 10 điều chỉ có ở Thuỵ Sĩ

Bản đồ nước Thuỵ Sĩ hay bản đồ các đơn vị hành chính đất nước Thuỵ Sĩ trên bản đồ thế giới giúp bạn tra cứu thông tin về vị trí tiếp giáp, ranh giới, địa hình của nước này chi tiết.

Chúng tôi BANDOVIETNAM.COM.VN tổng hợp thông tin Tất Tần Tật về nước Thuỵ Sĩ từ nguồn Internet uy tín, được cập nhật mới năm 2022.

Thông tin sơ lược giới thiệu về nước Thuỵ Sĩ

Thụy Sĩ hay Thuỵ Sỹ tên đầy đủ là Liên bang Thụy Sĩ, là một nước cộng hòa liên bang tại châu Âu. Quốc gia này gồm có 26 bang, và thành phố Bern là nơi đặt trụ sở nhà đương cục liên bang.

Thụy Sỹ là quốc gia không giáp biển với tổng diện tích 41.285 km² và về địa lý bao gồm dãy Alps, cao nguyên Thụy Sỹ và dãy Jura. Mặc dù dãy Alps chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ quốc gia.

Thụy Sỹ nằm tại nơi giao nhau của châu Âu German và châu Âu La Tinh, có bốn khu vực ngôn ngữ và văn hóa: Đức, Pháp, Ý và Romansh. Đa số dân chúng nói tiếng Đức, 

Dân số: Tính đến năm 2022, theo số liệu từ Liên Hợp Quốc, dân số hiện tại của nước Thuỵ Sĩ là 8.747.380 người. Tổng dân số các nước nước Thuỵ Sĩ hiện chiếm 0,11% dân số thế giới. 

Nước Thuỵ Sĩ đang đứng thứ 101 trên thế giới trong bảng xếp hạng dân số các nước và vùng lãnh thổ. Mật độ dân số đạt 221 người/km2.

Quốc kỳ: Quốc kỳ Thụy Sĩ là một lá cờ có hình vuông màu đỏ, có hình thập tự màu trắng.

Quốc kỳ và quốc huy của đất nước Thụy Sĩ
Quốc kỳ và quốc huy của đất nước Thụy Sĩ
Tên chính thức Liên bang Thụy Sĩ
Tên tiếng Anh Switzerland
Loại chính phủ Cộng hòa Liên bang
Đơn vị tiền tệ Francs; (tỷ giá tháng 3/2014 so với USD: 1 Franc ≈ 1,14 USD)
Thủ đô Bern
Ngày Quốc Khánh Ngày 1 tháng 8.
Lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Ngày 11/10/197
Thành phố lớn Basel, Genève (Genf, Genève, Geneva), Luzern, Lausanne, Lugano, Zürich.
Diện tích 41,285 km2 (hạng 132)
Vị trí địa lý

Nằm ở Trung Âu (Phía Bắc giáp Đức, Nam giáp Ý, Tây giáp Pháp, Đông giáp Áo và Lích-ten-xờ-ten).

Tọa độ: 47000 vĩ Bắc 8000 kinh Đông.

Địa hình  Phần lớn là núi (dãy Anpơ ở phía nam, dãy Jura ở phía tây bắc), ở miền Trung là cao nguyên có đồi núi, đồng bằng và nhiều hồ lớn.
Tài nguyên thiên nhiên Thủy điện, gỗ, muối.
Dân số 8.747.380 người
Ngôn ngữ chính

Tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Italia và tiếng Rômanh; tiếng Anh cũng được sử dụng.

Tên miền quốc gia  .ch
Tôn giáo Thiên chúa giáo La mã (42 %); Tin lành (35 %); Đạo Hồi (4%);
Múi giờ  UTCCEST (CET)
Mã điện thoại 41       
Giao thông bên Bên phải

 

 Bản đồ Thuỵ Sĩ

Bản đồ hành chính nước Thuỵ Sĩ khổ lớn năm 2022

 Bản đồ Thuỵ Sĩ
Bản đồ Thuỵ Sĩ , Click vào hình để xem kích thước lớn

 Bản đồ Thuỵ Sĩ

Bản đồ Thuỵ Sĩ

PHÓNG TO

PHÓNG TO

Bản đồ Thuỵ Sĩ trên thế giới 

Bản đồ các nước và  ãnh thổ trên thế giới

Bản đồ các nước và  ãnh thổ trên thế giới

PHÓNG TO

Bản đồ Nam Cực thuộc bán Cầu Tây
Bản đồ Nam Cực thuộc bán Cầu Tây

PHÓNG TO  DOWNLOAD

Bản đồ Bắc Cực thuộc bán cầu Đông
Bản đồ Bắc Cực thuộc bán cầu Đông

PHÓNG TO DOWNLOAD

Bản đồ các châu lục trên thế giới
Bản đồ các châu lục trên thế giới

PHÓNG TO

Bản đồ các châu lục trên thế giới
Bản đồ tự nhiên thế giới

PHÓNG TO

10 điều chỉ có tại đất nước Thuỵ Sĩ

Lượng súng lưu hành vào hàng nhiều nhất thế giới hay tiền phạt chạy quá tốc độ phụ thuộc vào thu nhập của người lái là những điều chỉ có ở Thuỵ Sĩ.

1. Thuỵ Sĩ đem đến ấn tượng về một đất nước yên bình. Tuy nhiên, khu quân đội Thuỵ Sĩ thực sự có thể cải trang thành nhà dân nằm ngay giữa các ngôi làng để bảo đảm an toàn và sẵn sàng ứng phó với tình huống nguy hiểm. “Don’t mess with S” (Đừng gây rối với Thuỵ Sĩ) là cụm từ du khách cần nhớ khi tới đây.

2. Swiss Army Knife là món quà được phần đông du khách lựa chọn khi tới Thuỵ Sĩ. Tuy nhiên, không phải mọi thứ trên con dao đều do Thuỵ Sĩ chế tác. Cái mở nút chai luôn luôn được sản xuất tại Nhật.

3. Biểu tượng chiếc ghế gãy một chân (broken chair) nổi tiếng đặt tại quảng trường Palais des Nations, đối diện trụ sở Liên Hợp Quốc ở Geneva là lời kêu gọi tất cả quốc gia phổ cập hóa và thực hiện nhanh chóng, đầy đủ Công ước Ottawa trong việc phản đối sử dụng mìn sát thương cá nhân và bom bi.

4. Đài phun nước Kindlifresserbrunnen (Bern, Thụy Sĩ) có hình một con quỷ đang ăn thịt đứa trẻ và vác một túi đầy trẻ con trên tay. Không ai biết ý nghĩa của bức tượng này, nhưng nó luôn là nỗi khiếp sợ của người lớn và trẻ em suốt 500 năm qua.

5. Năm 2010, mức lương trung bình của giáo viên Thuỵ Sĩ là 120.000 USD/ năm, được xếp hạng cao nhất thế giới.

6. Bất cứ công dân Thuỵ Sĩ nào cũng có quyền phản đối luật và kiến nghị sửa đổi hiến pháp.

7. Tiền phạt cho hành vi chạy quá tốc độ ở Thuỵ Sĩ phụ thuộc vào thu nhập của người lái. Gần đây nhất, một người đàn ông đi Ferrrari đã phải nộp 250.000 USD do thu nhập của ông vào khoảng gần một triệu USD/ năm.

8. Theo khảo sát của tạp chí Economist, Thuỵ Sĩ là nơi tốt nhất cho một em bé ra đời dựa trên các chỉ số về lao động, mức độ tội phạm, chất lượng cuộc sống, chăm sóc sức khỏe và hạnh phúc.

9. Trong trường hợp xảy ra chiến tranh hạt nhân, Thuỵ Sĩ vẫn có đủ hầm trú ẩn cho toàn bộ người dân.

10. Thuỵ Sĩ là quốc gia có tỷ lệ phạm tội thấp nhất thế giới nhưng cũng đồng thời có những đạo luật về sử dụng súng tự do hơn bất kỳ quốc gia nào khác, kể cả Mỹ. Ước tính có khoảng 2,3 đến 4,5 triệu khẩu súng được lưu hành trên tổng số dân là 8 triệu người.

Tóm tắt lịch sử của người Thuỵ Sĩ

Từ năm 1848, Liên bang Thụy Sĩ đã là một nhà nước liên bang với các bang tương đối độc lập, một vài bang trong đó có lịch sử liên minh cách đây hơn 700 năm, đặt chúng trong số những nước cộng hòa tồn tại lâu đời nhất trên thế giới.

Lịch sử ban đầu của khu vực gắn liền với nền văn hóa Alpine. Thụy Sĩ là nơi sinh sống của người Gauls và Raetians, và chịu sự cai trị của La Mã vào thế kỷ thứ 1 trước Công nguyên. Nền văn hóa Gallo-La Mã đã được hợp nhất dưới sự ảnh hưởng của Đức trong suốt thời kỳ Trung cổ, với phần phía đông của Thụy Sĩ trở thành lãnh thổ của Đức. Các vùng của Thụy Sĩ được hợp nhất vào Đế chế Frankish ở thế kỷ thứ 6. Trong thời kỳ trung cổ, phần phía đông đã trở thành một phần của công quốc Swabia trong Thánh chế La Mã, trong khi phần phía tây là một phần của Burgundy.

Liên bang Thụy Sĩ Cổ trong thời trung cổ cuối (với Tám Bang) thiết lập quyền độc lập với Habsburg và công quốc Burgundy, và trong cuộc chiến tranh Italia, đã giành được lãnh thổ phía nam dãy núi Alps từ Công quốc Milan. Phong trào Cải cách Thụy Sĩ đã phân chia Liên bang và dẫn đến một cuộc xung đột nội bộ lịch sử kéo dài giữa 13 Bang trong thời kỳ Cận đại. Trong cuộc Cách mạng Pháp, Thụy Sĩ bị Pháp xâm lược vào năm 1798 và được cải tổ thành Cộng hòa Helvetic, một nước phụ thuộc. Đạo luật hòa giải của Napoleon vào năm 1803 đã phục hồi tình trạng của Thụy Sĩ là một Liên bang, và sau khi kết thúc thời kỳ Napoleon, Liên bang Thụy Sĩ đã trải qua một giai đoạn khủng hoảng lên đến đỉnh điểm trong cuộc nội chiến ngắn ngủi vào năm 1847 và hình thành một hiến pháp liên bang vào năm 1848.

Lịch sử của Thụy Sĩ từ năm 1848 phần lớn đã trở thành một trong những nước thành công và thịnh vượng. Công nghiệp hóa đã chuyển đổi nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, tính trung lập của Thụy Sĩ trong suốt các cuộc chiến tranh thế giới và sự thành công của ngành công nghiệp ngân hàng đã nhấn mạnh Thụy Sĩ như là một trong những nền kinh tế ổn định nhất thế giới.

Thụy Sĩ đã ký một thỏa thuận tự do thương mại với Cộng đồng Kinh tế châu Âu vào năm 1972, và đã tham gia quá trình hội nhập châu Âu bằng các điều ước song phương, nhưng Thụy Sĩ đặc biệt kháng cự việc gia nhập Liên minh châu Âu (EU) mặc dù lãnh thổ của nó được được bao quanh bởi các quốc gia thành viên EU từ năm 1995.

LỊCH SỬ BAN ĐẦU

Thời tiền sử: Bằng chứng khảo cổ học cho thấy rằng những thổ dân săn bắt hái lượm đã định cư ở những vùng đất thấp phía bắc dãy núi Alps trong giai đoạn giữa của thời kỳ đồ đá cũ khoảng 150.000 năm trước. Vào thời kỳ đồ đá mới, khu vực này tương đối đông dân cư. Di tích của Thời đồ đồng từ 3800 năm trước Công nguyên BC đã được tìm thấy tại các vùng trũng với nhiều hồ. Khoảng 1500 trước Công nguyên, các bộ lạc Celtic đã định cư trong khu vực này. Còn những người Raetians sống ở các vùng phía đông, trong khi phía tây bị chiếm bởi người Helvetii.

Thời cổ đại: Vào những năm 58 TCN, người Helvetii đã cố trốn tránh áp lực di cư từ các bộ lạc của Đức bằng cách chuyển đến Gaul, nhưng bị đánh bại bởi đội quân của Julius Caesar và sau đó trở lại. Vùng núi hợp nhất vào Đế chế La Mã và được La tinh hóa rộng rãi trong các thế kỷ sau. Trung tâm hành chính của La Mã là Aventicum (Avenches). Vào năm 259, bộ tộc Alamanni tràn vào Limes, đưa sự định cư trên lãnh thổ Thụy Sĩ về biên giới của đế chế La Mã.

Các địa phận giám mục Công giáo đầu tiên đã được thành lập vào thế kỷ thứ tư.
Với sự sụp đổ của Đế chế La Mã phía tây, các bộ lạc Đức tiến vào khu vực. Người Burgundian định cư ở phía tây; trong khi ở phía bắc, người định cư Alamanni dần dần ép buộc dân số Celto-La Mã trước đó phải rút lui vào núi. Burgundy đã trở thành một phần vương quốc của người Frank vào năm 534; hai năm sau đó, lãnh địa của công tước Alamans theo sau. Tại khu vực Alaman kiểm soát, cộng đồng Kitôgiáo bị cô lập vẫn tiếp tục tồn tại và các tu sĩ Ailen đã tái giới thiệu đức tin Kitô giáo vào đầu thế kỷ thứ 7.

Thời trung cổ: Dưới thời vua Carolingian, chế độ phong kiến phát triển nhanh chóng, các tu viện và các giám mục là căn cứ quan trọng cho việc duy trì các quy tắc. Hiệp ước Verdun năm 843 chuyển nhượng Upper Burgundy (phía tây Thụy Sĩ ngày nay) cho Lotharingia, và Alemannia (phía đông Thụy Sĩ) cho vương quốc phía đông của vua Louis Đức mà sau này sẽ trở thành một phần của Thánh chế La Mã.

Vào thế kỷ thứ 10, khi sự cai trị của Carolingians suy yếu, Magyar phá hủy Basel vào năm 917, St. Gallen vào năm 926. Chỉ sau chiến thắng của vua Otto I đánh bại Magyar vào năm 955 trong trận Lechfeld thì lãnh thổ của Thụy Sĩ mới tái hòa nhập vào đế chế.

Vào thế kỷ 12, các công tước của Zähringen được trao quyền đối với một phần lãnh thổ của Burgundy trong đó bao gồm một phần phía tây của Thụy Sĩ hiện đại. Họ lập nên nhiều thành phố, bao gồm Fribourg năm 1157, và Bern năm 1191. Triều đại của Zähringer kết thúc với cái chết của Berchtold V vào năm 1218, và các thành phố của họ sau đó trở thành reichsfrei (thực chất là một thành phố phụ thuộc vào Thánh chế La Mã), trong khi các công tước của Kyburg cạnh tranh với Habsburg để giành quyền kiểm soát các khu vực nông thôn của lãnh thổ Zähringer cũ.

Dưới sự cai trị của Hohenstaufen, dãy An-pơ qua Raetia và Đèo St Gotthard có được vị thế quan trọng. Sau này đặc biệt trở thành một tuyến đường trực tiếp quan trọng thông qua các ngọn núi. Uri (năm 1231) và Schwyz (năm 1240) đã được cấp cho Reichsfreiheit để giành quyền kiểm soát trực tiếp qua đèo. Hầu hết lãnh thổ của Unterwalden lúc này thuộc về tu viện mà trước đó là reichsfrei.

Sự biến mất của triều đại Kyburg mở đường cho triều đại Habsburg để đưa nhiều lãnh thổ phía nam sông Rhine dưới sự kiểm soát của họ, giúp họ gia tăng quyền lực. Rudolph của Habsburg, người đã trở thành vua của nước Đức vào năm 1273, đã thu hồi một cách hiệu quả vị thế của Reichsfreiheit mà được cấp cho “Các vùng Rừng núi” như Uri, Schwyz, và Unterwalden. Các vùng Rừng núi do đó bị mất vị thế độc lập của họ và được cai quản bởi các Thị trưởng.

LIÊN BANG CỔ (1300 - 1798)

Giai đoạn cuối thời Trung cổ: Vào ngày 01 tháng Tám năm 1291, các bang Uri, Schwyz, và Unterwalden đã đoàn kết lại để bảo vệ hòa bình sau cái chết của Vua Rudolf I của Habsburg, hình thành những hạt nhân đầu tiên của Liên bang Thụy Sĩ cũ.

Vào năm 1353, ba bang ban đầu có thêm sự tham gia của các bang như Glarus và Zug và các thành bang như Lucerne, Zürich, và Bern, tạo thành “Liên bang cũ” với tám tiểu bang tồn tại bền bỉ trong suốt thế kỷ 15. Tại trận đánh Sempach năm 1386, Thụy Sĩ đánh bại Habsburgs, tăng cường quyền tự chủ trong Thánh chế La Mã.

Zürich bị trục xuất khỏi Liên bang từ năm 1440-1450 do một cuộc xung đột về lãnh thổ của Toggenburg (Chiến tranh Zürich cũ). Quyền lực và sự giàu có của Liên bang gia tăng đáng kể, với chiến thắng trước Charles Bold của Burgundy trong những năm 1470s và sự thành công của lính đánh thuê Thụy Sĩ.

Thứ tự liệt kê truyền thống của các bang Thụy Sĩ đã phản ánh trạng thái này, danh sách tám “Bang cũ” đầu tiên, với các thành bang đứng trước các bang sáng lập, theo sau là các bang mà gia nhập Liên bang sau năm 1481, theo thứ tự lịch sử.

Thụy Sĩ đánh bại Liên minh Swabian vào năm 1499 và giành được quyền tự chủ tập thể lớn hơn trong Thánh chế La Mã, bao gồm việc miễn thuế từ cuộc cải cách của Nhà vua năm 1495 và khả năng miễn trừ ngoại giao với hầu hết các cung điện Hoàng gia. Năm 1506, Đức Giáo Hoàng Julius II tham gia vào lực lượng Bảo vệ Thụy Sĩ, tiếp tục phục vụ giáo hoàng cho đến ngày nay. Sự mở rộng của Liên bang và danh tiếng không thể bị đánh bại giành được trong các cuộc chiến tranh trước đó đã phải chịu một thất bại đầu tiên năm 1515 khi Thụy Sĩ thất bại trong trận Marignano.

Sự Cải cách: Cải cách ở Thụy Sĩ bắt đầu vào năm 1523, dẫn đầu bởi Huldrych Zwingli, linh mục của nhà thờ lớn tại Zürich kể từ năm 1518. Zürich thông qua đạo Tin lành, được tham gia bởi các bang như Berne, Basel, và Schaffhausen, trong khi Lucerne, Uri, Schwyz, Nidwalden, Zug, Fribourg và Solothurn vẫn theo Công giáo. Glarus và Appenzell bị chia rẽ. Điều này dẫn đến nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo liên bang (Kappeler Kriege) vào năm 1529 và 1531, vì mỗi bang theo các tôn giáo đối lập bất hợp pháp, và sự hình thành của hai chế độ, một là Tin Lành ở Aarau và một là Công giáo ở Lucerne (như cũng như các chế độ đầy đủ chính thức vẫn thường họp mặt ở Baden) nhưng Liên bang vẫn sống sót.

Khởi đầu Thụy Sĩ Hiện đại: Trong suốt cuộc Chiến tranh Ba mươi năm, Thụy Sĩ tương đối là “một ốc đảo của hòa bình và thịnh vượng" (Grimmelshausen) trong một châu Âu bị tàn phá bởi chiến tranh, chủ yếu là vì tất cả các cường quốc ở châu Âu phụ thuộc vào lính đánh thuê Thụy Sĩ, và không để cho Thụy Sĩ rơi vào tay của một trong các đối thủ của họ. Về mặt chính trị, tất cả họ đều cố gắng giành ảnh hưởng bằng cách chỉ huy lính đánh thuê như Jörg Jenatsch hay Johann Rudolf Wettstein. Drei bunde của Grisons, tại thời điểm đó chưa phải là thành viên của Liên Bang, đã tham gia vào cuộc chiến từ năm 1620, dẫn đến mất mát bang Valtellina năm 1623.

Tại Hiệp ước Westphalia năm 1648, Thụy Sĩ giành được độc lập hợp pháp từ Thánh chế La Mã. Valtellina bị phụ thuộc Drei bunde một lần nữa sau Hiệp ước và vẫn như vậy cho đến khi Napoleon Bonaparte thành lập nước Cộng hòa Cisalpine năm 1797.

Năm 1653, nông dân các vùng lãnh thổ như Lucerne, Bern, Solothurn, và Basel nổi dậy vì đồng tiền mất giá. Mặc dù các cơ quan chức chiếm ưu thế trong cuộc chiến tranh của những người nông dân Thụy Sĩ, nhưng họ đã thông qua được một số cải cách về thuế và bất ngờ ngăn cản dài hạn sự phát triển có tính tuyệt đối có thể xảy ra tại một số hoàng gia khác của châu Âu. Những căng thẳng giáo phái còn lại, tuy nhiên, lại nổ ra một lần nữa trong cuộc chiến tranh thứ nhất của Villmergen, năm 1656, và cuộc chiến tranh Toggenburg (hoặc Cuộc chiến thứ hai của Villmergen), vào năm 1712.

THỜI NAPOLEON VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ (1978 - 1848)

Sự xâm lược của Pháp và Cộng hòa Helvetic: Trong Cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp, quân đội Pháp đã xâm lược Thụy Sĩ và biến nó thành một đồng minh gọi là “Cộng hòa Helvetic” (1798-1803). Nó có một chính quyền trung ương với ít vai trò cho các bang. Sự đối lập giữa chủ nghĩa địa phương và truyền thống tự do đã gây ra phẫn nộ sâu sắc, mặc dù một số cuộc cải cách hiện đại hóa đã diễn ra.

Kháng chiến mạnh mẽ nhất trong các thành trì Công giáo truyền thống, với các cuộc nổi dậy vũ trang bùng phát vào mùa xuân năm 1798 ở trung tâm Thụy Sĩ. Quân đội Pháp đã đàn áp các cuộc nổi dậy và sự hỗ trợ cho những ý tưởng mang tính cách mạng đó cũng giảm dần. Các yếu tố cải cách còn yếu và hầu hết người dân Thụy Sĩ phẫn nộ vì những mất mát của họ cho nền dân chủ địa phương, sự tập trung hóa, các loại thuế mới, chiến tranh, và sự thù nghịch tôn giáo.

Các bước chính được thực hiện để giải phóng người Do Thái bao gồm việc bãi bỏ các loại thuế đặc biệt và lời tuyên thệ vào năm 1798. Tuy nhiên, cuộc phản công đã diễn ra vào năm 1815, và mãi cho đến năm 1879 người Do Thái mới được ban quyền bình đẳng với người Kitô giáo.

Năm 1803, Đạo luật hòa giải của Napoleon đã khôi phục lại một phần chủ quyền của các bang, và các nhánh cũ và vùng lãnh thổ đồng minh của Aargau, Thurgau, Grisons, St. Gallen, Vaud và Ticino trở thành các bang có quyền bình đẳng. Napoleon và những kẻ thù của ông đã có rất nhiều trận đánh tại Thụy Sĩ mà đã làm hủy hoại nhiều địa phương.

Cuộc chiến tranh Sonderbund năm 1847: Các nhân tố trong làn sóng Tin Lành tự do buộc tội rằng Sonderbund đã vi phạm Hiệp ước Liên bang năm 1815, mục §6 trong đó rõ ràng đã ngăn cấm một liên minh riêng biệt như vậy. Tập hợp đa số phiếu trong Tagsatzung, họ quyết định giải tán Sonderbund vào ngày 21 tháng 10, 1847. Những người có lá phiếu quyết định chống lại những người Công giáo có số lượng rất đông trong dân số; họ có số lính vượt trội từ 79.000 đến 99.000, và không thiếu những binh sĩ được đào tạo tốt, các sĩ quan và tướng. Khi Sonderbund từ chối giải tán, quân đội quốc gia đã tấn công trong một cuộc nội chiến ngắn giữa Công Giáo và các bang Tin Lành, được gọi là Sonderbundskrieg ( “Cuộc chiến tranh Sonderbund.”) Quân đội quốc gia bao gồm các binh sĩ của tất cả các bang khác đều tham gia, ngoại trừ Neuchâtel và Appenzell Innerrhoden (vẫn trung lập). Sonderbund dễ dàng bị đánh bại trong vòng chưa đầy một tháng; và có khoảng 130 người thiệt mạng. Ngoài những cuộc bạo loạn nhỏ, đây là cuộc xung đột vũ trang cuối cùng trên lãnh thổ Thụy Sĩ. Nhiều lãnh đạo của Sonderband chạy sang Ý, nhưng người chiến thắng lại rộng lượng mời các bang bị đánh bại tham gia vào một chương trình cải cách liên bang, và một hiến pháp mới được soạn thảo theo kiểu Mỹ. Các vấn đề của quốc gia sẽ chịu sự kiểm soát của quốc hội, và các tu sĩ Dòng Tên bị trục xuất. Người Thụy Sĩ đã bình chọn ủng hộ hiến pháp mới rất đông từ 2 triệu so với 300.000. Thụy Sĩ đã trở nên yên tĩnh. Tuy nhiên phe bảo thủ trên khắp châu Âu trở nên sợ hãi, và chuẩn bị lực lượng của họ để đáp ứng những thách thức có thể, mà thực sự sớm bùng nổ thành các cuộc cách mạng vào năm 1848. Trong những cuộc bạo lực cách mạng này, bên ngoài Thụy Sĩ, phe bảo thủ luôn luôn thành công.

THUỴ SĨ HIỆN ĐẠI (TỪ NĂM 1948 - ĐẾN NAY)

Công nghiệp hóa: Như là hậu quả của cuộc nội chiến, Thụy Sĩ đã thông qua một hiến pháp liên bang năm 1848, sửa đổi nó một cách rộng rãi vào năm 1874 và thiết lập trách nhiệm của liên bang đối với quốc phòng, thương mại, và các vấn đề pháp lý, để lại tất cả các vấn đề khác cho các chính quyền bang.Từ đó, và qua nhiều năm của thế kỷ 20, chính quyền tiếp tục cải thiện chính trị, kinh tế và xã hội mang tính đặc trưng của lịch sử Thụy Sĩ.

Trong khi Thụy Sĩ chủ yếu là nông thôn, các thành phố trải qua một cuộc cách mạng công nghiệp trong những năm cuối thế kỷ 19, đặc biệt tập trung vào hàng dệt may. Chẳng hạn như tại Basel, hàng dệt may, bao gồm cả lụa, là những ngành công nghiệp hàng đầu. Năm 1888, phụ nữ chiếm 44% số người có lương thu nhập. Gần một nửa phụ nữ làm việc trong các nhà máy dệt, những người giúp việc gia đình là ngành nghề lớn thứ hai. Tỷ lệ phụ nữ trong lực lượng lao động cao hơn giữa năm 1890 và 1910 so với những năm cuối thập niên 1960 và 1970.

Các trường Đại học Thụy Sĩ vào cuối thế kỷ 19 trở nên nổi tiếng vì số lượng sinh viên nữ được giáo dục y tế.

THẾ CHIẾN (1914 - 1945)

Các cường quốc tôn trọng tính trung lập của Thụy Sĩ trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ I. Trong vụ Grimm-Hoffmann, quân Đồng minh lên án đề xuất của một chính trị gia về việc đàm phán hòa bình trên mặt trận phía Đông; họ muốn cuộc chiến tranh đó để tiếp tục hạ Đức xuống.

Khi các ngành công nghiệp bắt đầu phát triển vào giữa thế kỷ 19, Thụy Sĩ nổi lên như là một trong những quốc gia thịnh vượng nhất châu Âu, “phép màu Thụy Sĩ”- là một sự phát triển trong thế kỷ 20 ngắn ngủi, trong số những thứ khác gắn liền với vai trò của Thụy Sĩ trong các cuộc Chiến tranh Thế giới.

Trong suốt cuộc Chiến tranh Thế giới thứ II, Đức được coi là quân xâm lược, nhưng không bao giờ tấn công. Dưới quyền Tướng Henri Guisan, quân đội Thụy Sĩ chuẩn bị huy động hàng loạt lực lượng dân quân tự vệ để chống lại quân xâm lược, với sự chuẩn bị mạnh mẽ, vị trí chiến lược cao trong dãy núi Alps được biết đến như Reduit. Thụy Sĩ vẫn duy trì được độc lập và tính trung lập thông qua một sự kết hợp răn đe quân sự, nhượng bộ kinh tế với Đức, và may mắn khi các sự kiện lớn hơn trong suốt các cuộc chiến tranh đã trì hoãn sự xâm lược.

Những nỗ lực của đảng Quốc xã nhỏ của Thụy Sĩ để tạo ra một Liên minh chính trị với Đức đã thất bại thảm hại, phần lớn là do di sản đa văn hóa của Thụy Sĩ, ý thức mạnh mẽ về bản sắc dân tộc và truyền thống lâu đời của dân chủ trực tiếp và tự do dân sự. Báo chí Thụy Sĩ đã chỉ trích mạnh mẽ Third Reich [Đế chế thứ ba], thường chọc điên các nhà lãnh đạo Đức. Thụy Sĩ là một cơ sở quan trọng cho hoạt động tình báo của cả hai bên trong cuộc xung đột và thường thông tin liên lạc trung gian giữa quân Trục phát xít và quân Đồng Minh.

Thương mại của Thụy Sĩ đã bị phong tỏa bởi cả quân Đồng minh và quân Trục. Cả hai bên đều công khai gây áp lực lên Thụy Sĩ để không giao dịch với bên kia. Hợp tác kinh tế và mở rộng tín dụng cho (Third Reich) trở nên đa dạng tùy theo khả năng nhận thức về cuộc xâm lược, và lợi ích từ các đối tác thương mại khác. Sự nhượng bộ đạt đỉnh điểm sau khi tuyến đường sắt quan trọng thông qua Vichy Pháp đã bị cắt đứt vào năm 1942, để lại Thụy Sĩ hoàn toàn bị bao vây bởi quân Trục. Thụy Sĩ dựa vào thương mại cho một nửa số thực phẩm của mình và tất cả các nhiên liệu cần thiết của nó, nhưng được kiểm soát tuyến đường hầm xe lửa quan trọng xuyên qua núi giữa Đức và Ý.

Những mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Thụy Sĩ trong chiến tranh là các bộ máy công cụ chính xác, đồng hồ, gối đỡ chân kính (được sử dụng trong máy ngắm để ném bom), điện, và các sản phẩm từ sữa. Trong Thế chiến thứ hai, đồng franc Thụy Sĩ là đồng tiền tự do chuyển đổi lớn duy nhất còn lại trên thế giới, cả quân Đồng minh và quân Đức đã bán một lượng lớn vàng cho Ngân hàng Quốc gia Thụy Sĩ. Giữa năm 1940 và 1945, các ngân hàng Reichbank Đức đã bán 1,3 tỷ franc vàng cho ngân hàng Thụy Sĩ để trao đổi với franc Thụy Sĩ và ngoại tệ khác.

Hàng trăm triệu franc vàng này là vàng tiền tệ cướp từ các ngân hàng trung ương của các nước bị chiếm đóng. 581.000 franc vàng “Melmer” lấy từ các nạn nhân Holocaust tại Đông Âu đã được bán cho các ngân hàng Thụy Sĩ. Tổng cộng, thương mại giữa Đức và Thụy Sĩ đóng góp khoảng 0,5% vào nỗ lực chiến tranh của Đức nhưng không kéo dài được cuộc chiến một cách đáng kể.

Trong suốt cuộc chiến, Thụy Sĩ là nơi lưu trú của 300.000 người tị nạn. 104.000 trong số này là quân lính nước ngoài lưu trú theo các Quyền và Nghĩa vụ của Lực lượng Trung lập được nêu ra trong Hiệp định Hague. Phần còn lại là thường dân nước ngoài được cấp một trong hai phép khoan dung hoặc chấp nhận cư trú của chính quyền bang. Người tị nạn không được phép giữ việc làm. 60.000 người tị nạn nhân là thường dân trốn khỏi sự khủng bố của Đức quốc xã. Trong số này, có từ 26.000 đến 27.000 người Do Thái. Khoảng 10.000 đến 25.000 người tị nạn dân sự bị từ chối nhập cảnh. Vào lúc bắt đầu của cuộc chiến, Thụy Sĩ có khoảng 18.000 đến 28.000 dân Do Thái, chiếm dân số khoảng 4.000.000 người.

Bên trong Thụy Sĩ vào thời điểm của cuộc xung đột đã có sự phân cực vừa phải. Một số là những người yêu chuộng hòa bình. Một số người theo chủ nghĩa tư bản quốc tế hoặc quốc tế cộng sản. Những người khác dựa nhiều hơn vào nhóm ngôn ngữ của họ, với một số trong khu vực nói tiếng Pháp ủng hộ cho quân Đồng minh, và một số trong khu vực Thụy Sĩ-Đức ủng hộ cho quân Trục. Chính phủ đã cố gắng để ngăn chặn các hoạt động của bất kỳ cá nhân, nhóm, hoặc phe nhóm nào tại Thụy Sĩ mà có hành động theo chủ nghĩa cực đoan hoặc cố gắng phá vỡ sự thống nhất của dân tộc. Các khu vực nói tiếng Thụy Sĩ-Đức chuyển ngôn ngữ từ tiêu chuẩn (cao) của người Đức nói tiếng Đức, với sự nhấn mạnh hơn về thổ ngữ Thụy Sĩ địa phương.

Trong những năm 1960, tranh cãi đáng kể phát sinh giữa các nhà sử học liên quan đến mối quan hệ của nước này với Đức Quốc Xã.

Đến những năm 1990, những tranh cãi bao gồm một vụ kiện ở New York đối với tài sản của người Do Thái trong các tài khoản ngân hàng thời Holocaust. Chính phủ ủy quyền một nghiên cứu có căn cứ chính xác về sự tương tác của Thụy Sĩ với chế độ Đức quốc xã. Báo cáo cuối cùng của hội thảo độc lập này của các học giả quốc tế, được gọi là Ủy ban Bergier, được phát hành năm 2002.

LỊCH SỬ SAU NĂM 1945

Trong suốt Chiến tranh Lạnh, chính quyền Thụy Sĩ đã xem xét việc xây dựng một cơ sở bom hạt nhân của Thụy Sĩ. Được dẫn đầu bởi các nhà vật lý hạt nhân tại Viện Công nghệ Liên bang Zurich như Paul Scherrer thì việc thực hiện điều này là một khả năng thực tế. Tuy nhiên, vấn đề tài chính với ngân sách quốc phòng đã ngăn chặn đáng kể việc phân bổ các quỹ, và Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1968 được xem như là một thay thế hợp lệ. Tất cả các kế hoạch còn lại để xây dựng vũ khí hạt nhân được giảm năm 1988.

Phát biểu khai mạc tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới là Chủ tịch Pascal Couchepin, một trong nhiều tổ chức quốc tế có trụ sở tại Thụy Sĩ.

Từ năm 1959, Hội đồng Liên bang, được bầu chọn bởi quốc hội, gồm các thành viên của bốn đảng chính, Tin lành Dân chủ tự do, Dân chủ Thiên chúa giáo, cánh tả đảng Dân chủ Xã hội và đảng Nhân dân cánh hữu, về cơ bản tạo ra một hệ thống mà không có một sự phản đối nào (xem hệ thống mục lục), phản ánh quan điểm mạnh mẽ của phe đối lập trong một nền dân chủ trực tiếp.

Năm 1963, Thụy Sĩ tham gia Hội đồng châu Âu. Năm 1979, các phần của Bern giành được độc lập, hình thành bang Jura mới.

Vai trò của Thụy Sĩ tại Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế đã giúp đỡ để giảm bớt liên quan cho đất nước trung lập. Năm 2002, cử tri Thụy Sĩ đã bỏ 55% số phiếu của họ để ủng hộ LHQ và gia nhập Liên Hiệp Quốc. Điều này có được sau nhiều thập kỷ tranh luận và từ chối là thành viên trước đó vào năm 1986 bởi một cuộc bỏ phiếu phổ biến 3-1.

Quyền bầu cử của phụ nữ ở Thụy Sĩ đã được giới thiệu bằng việc bỏ phiếu phổ thông vào năm 1971. Việc sửa đổi các quyền bình đẳng đã được phê duyệt vào năm 1981.

Thụy Sĩ không phải là một nước thành viên EU, nhưng đã được (cùng với Liechtenstein) bao quanh bởi lãnh thổ EU kể từ khi Áo tham gia vào năm 1995. Năm 2005, Thụy Sĩ đã đồng ý tham gia hiệp ước Schengen và hiệp định Dublin bằng việc bỏ phiếu phổ thông.

Bản đồ Google Maps của đất nước Thuỵ Sĩ